Nhận diện đặc thù và nguy cơ mắc bệnh tim ở phụ nữ

Nhận diện đặc thù và nguy cơ mắc bệnh tim ở phụ nữ

May 29, 2018 0 By Nga Truong

Bệnh tim dường như vẫn chưa được phụ nữ quan tâm đúng mức. Trên thực tế, tỷ lệ phụ nữ tử vong do bệnh tim mạch cao hơn nam giới do các cơn đau tim, suy tim và đột quỵ. Để khống chế và kiểm soát tốt bệnh tim mạch và đột quỵ, chiến lược tối ưu vẫn là kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ.

Bệnh tim thường được cho là căn bệnh gây chết người phổ biến ở nam giới. Với suy nghĩ này, người ta rất dễ bỏ qua những nguy cơ bệnh tim ở phụ nữ, và khiến phụ nữ cũng chủ quan không để ý những triệu chứng có thể liên quan đến bệnh tim mà họ đang mắc phải. Tại sao bệnh tim ở phụ nữ bị coi nhẹ và làm thế nào để ngăn ngừa cũng những phát hiện sớm bệnh tim ở phụ nữ? Đó là vấn đề bàn luận của chúng ta nhận diện đặc thù và nguy cơ mắc bệnh tim ở phụ nữ

Các bệnh của tim 

Có thể là bệnh ở cơ tim ảnh hưởng đến chức năng bơm máu đi, bệnh ở các động mạch ảnh hưởng đến chức năng đưa máu đến cơ tim, bệnh ở các van tim ảnh hưởng đến việc bảo đảm máu trong tim được bơm đi đúng hướng.

–   Bệnh mạch vành tim: khi nói bệnh mạch vành tim là bao gồm bệnh ở động mạch vành và những biến chứng. Bệnh ở động mạch vành ảnh hưởng đến sự cung cấp máu để nuôi dưỡng cơ tim – một trong những thể bệnh thương gặp nhất của bệnh tim và là nguyên nhân chính gây ra nhồi máu cơ tim. Dòng máu chảy trong các động mạch vành gặp cản trở do mạch máu bị xơ vữa – một thể bệnh của mạch máu có nhiều khả năng phòng ngừa. Bệnh mạch vành tim có thể dẫn đến nhiều vấn đề về tim khác như cơn đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim.

–   Bệnh lý cơ tim: gồm các bệnh của cơ tim; một số thể bệnh có nguồn gốc gien trong khi nhiều thể bệnh khác nguyên nhân còn chưa biết rõ. Bệnh lý cơ tim bao gồm các thể sau: thể thiếu máu do tiêu cơ tim sau biến chứng nhồi máu cơ tim; thể tim giãn; thể tim phì đại, cơ tim dày; và thể không rõ nguyên nhân. Một trong những thể hay gặp nhất là thể tim giãn to không rõ nguyên nhân

Nhận diện đặc thù và nguy cơ mắc bệnh tim ở phụ nữ - Ảnh 1

–   Bệnh van tim: có nhiều van bên trong tim để giữ cho dòng máu đi đúng hướng. Van tim có thể bị tổn thương do nhiều bệnh khác nhau và dẫn đến hẹp van, hở van hay đóng không chặt. Van tim có thể bị bệnh ngay từ khi mới sinh hay bị tổn thương do bệnh phong thấp, bệnh viêm nội tâm mạc, bệnh mô liên kết và do một số thuốc hay tia xạ trong điều trị ung thư.

–   Bệnh ngoại tâm mạc: bệnh của màng ngoài tim như viêm ngoại tâm mạc, tràn dịch màng tim và viêm màng ngoài tim co thắt.

Những thể bệnh này có thể đơn độc hay phối hợp và rất đa dạng về nguyên nhân cũng như biến chứng, ví dụ viêm màng ngoài tim có thể xảy ra sau khi bị nhồi máu cơ tim và hậu quả là tràn dịch màng ngoài tim hay cơn đau thắt ngực.

–   Bệnh tim bẩm sinh: là những thể bệnh phát triển từ trước khi sinh. Những bệnh này ảnh hưởng đến sự tạo thành cơ tim hay các buồng tim hay các van và gây ra các bệnh như hẹp một phần động mạch chủ hay các lỗ ở tim (khuyết tật ở vách tâm nhĩ hay tâm thất). Một số khuyết tật có thể đã rõ ngay sau khi sinh ra nhưng có nhiều khuyết tật khác mãi sau này trong đời mới có thể phát hiện ra.

–   Suy tim: thường được gọi là suy tim do ứ huyết, một trạng thái mà tim không thể bơm đủ máu đến các cơ quan và các mô. Do khả năng bơm máu kém đi nên các cơ quan quan trọng không nhận được đủ máu, gây ra các dấu hiệu và triệu chứng như thở nông, giữ dịch ở gian bào (phù nề) và mỏi mệt. Suy tim do ứ huyết là thuật ngữ để chỉ trạng thái suy tim dẫn đến ứ dịch trong cơ thể; không phải mọi trường hợp suy tim đều do ứ huyết. Suy tim có thể phát triển đột ngột hay qua nhiều năm, có thể là hậu quả của nhiều chứng bệnh tim mạch khác đã làm cho tim bị tổn thương hay bị yếu đi, ví dụ như bệnh ở động mạch vành hay bệnh lý cơ tim.

Các bệnh của mạch máu

Các mạch máu đưa máu đến các mô và các cơ quan trong cơ thể. Có 4 loại mạch máu cơ bản như sau:

–   Động mạch: mang máu từ tim đi ra rồi được phân bố khắp cơ thể, cung cấp ôxy và các chất dinh dưỡng. Động mạch chủ là động mạch lớn nhất.

–   Tĩnh mạch: mang máu đã không còn ôxy trở về tim, vì hết ôxy nên màu tĩnh mạch hơi xanh nhìn thấy dưới da.

–   Mao mạch: là những mạch máu nhỏ kết nối động mạch và tĩnh mạch.

–   Bạch mạch: các tế bào như được tắm trong dịch tiết ra từ các mao mạch. Các bạch mạch là những mạch nhỏ mang dịch tiết ra ấy quay trở lại vòng tuần hoàn trung tâm của cơ thể.

Các mạch máu phân bố thành nhiều lớp và có một cơ chế hoạt động phức tạp để giúp cho máu đi tới mọi cơ quan quan trọng. Với trách nhiệm lớn như thế nhưng ít khi chúng được quan tâm trừ phi xảy ra một trong các sự cố sau:

–   Xơ cứng dộng mạch và xơ vữa động mạch: là 2 bệnh khi thành mạch trở nên dày và cứng rắn. Khi đó, dòng máu đi đến các mô và các cơ quan bị hạn chế. Xơ vữa động mạch là thể haỵ gặp nhất của bệnh dày và cứng rắn động mạch. Mặc dù hai tên bệnh này hay dùng lẫn lộn nhưng xơ vữa động mạch để chỉ các động mạch trở nên cứng rắn do bị khối mỡ (mảng bám) và nhiều chất khác tích tụ. Tim là một trong những cơ quan thường bị xơ vữa mạch máu; khi các động mạch của tim (động mạch vành) hẹp lại, người bệnh có thể bị cơn đau thắt ngực hay nhồi máu cơ tim.

Nhận diện đặc thù và nguy cơ mắc bệnh tim ở phụ nữ - Ảnh 2

–   Cao huyết áp: khi máu được bơm ra các mạch máu với lực quá mạnh. Loại bệnh tim mạch có lẽ phổ biến nhất ở phương Tây. Mặc dầu dễ đe dọa sinh mạng nhưng là một trong những bệnh có thể phòng ngừa và điều trị để không bị đột quy và suy tim.

–   Đột quy: là sự mất đột ngột chức năng não. Đột quỵ xảy ra khi máu tới não bị đình trệ (đột quy do thiếu máu) hay các mạch ở não bị vỡ (đột quỵ do chảy máu). Đột quy làm cho các tế bào não của vùng chảy máu bị chết. Đột quỵ thường do bệnh về thần kinh vì bệnh này gây ra nhiều biến chứng.

–   Phòng mạch: khi một điểm nào đó của thành động mạch hay tĩnh mạch phồng hay yếu. Phồng mạch thương to lên theo thời gian, do đó có tiềm năng vỡ và gây ra chảy máu nghiêm trọng đe dọa sinh mạng. Phồng mạch có thể xảy ra ở bất cứ động mạch nào trên cơ thể. Vị trí thường gặp nhất của phồng động mạch là ở động mạch chủ bụng và động mạch ở sàn não.

–   Bệnh ở động mạch ngoại biên và chứng di cà nhắc: chứng đi cà nhắc là triệu chứng của bệnh động mạch ngoại biên. Tuy nhiên, chứng đi cà nhắc thương được cho là một bệnh riêng biệt. Bệnh động mạch ngoại biên gây ra giảm cung cấp máu cho các chi – thương là cẳng chân – do bị tắc hoàn toàn hay một phần, khi đó phát sinh chứng đi cà nhắc. Khi hiện tượng tắc động mạch xảy ra thì cánh tay hay cẳng chân không nhận được đủ máu cho nhu cầu. Nếu động mạch bị tắc nhẹ thì có thể bị đau chi dưới khi vận động căng thẳng. Bệnh tắc động mạch ngoại biên có thể tiến triển và đến một lúc nào đó có thể bị đau chân hay chuột rút cả khi không vận động.

–   Viêm mạch máu: thường viêm động mạch nhưng cũng có khi viêm tĩnh mạch và mao mạch. Tiến trình viêm gây tổn thương cho thành mạch và giảm lưu lượng máu đi đến vùng nào đó. Đôi khi viêm mạch máu xảy ra cùng với bệnh toàn thân như bệnh lupút hay thấp khớp nhưng cũng có thể xảy ra độc lập.

–   Suy tĩnh mạch: khi dòng máu chảy sai đường trong các tĩnh mạch; các van nhỏ trong các tĩnh mạch được cấu tạo để thúc đẩy dòng máu di chuyển theo một hướng đi lên để quay trở về tim. Nếu bị nhiễm khuẩn hay có cục máu bất thường hay tăng áp lực sau lưng khi có thai thì các van có thể bị tổn thương và mất khả năng thúc đẩy. Khi đó, dòng máu chảy về phía sau và ứ đọng ở cẳng chân khi ngồi hay đứng. Hậu quả là xảy ra biến chứng giãn tĩnh mạch dầu, thay đổi ở mặt da, lở loét và sưng nề ở chi dưới. Khi giãn tĩnh mạch xảy ra ở cánh tay thì đau và sưng nề và các tĩnh mạch nổi rõ.

–   Huyết khối tĩnh mạch: do sự tạo thành cục máu ở tĩnh mạch. Biến cố này gây tổn thương cho tĩnh mạch và các van; ngoài ra nếu cục máu vỡ, có thể di chuyên đến phổi gây bệnh nghẽn mạch phổi. Một vài trương hợp cục máu cũng có thể gây đột quy.

–   Giãn tĩnh mạch: khi bị bệnh này, các tĩnh mạch trở nên to ra và ngoằn nghèo; thường ở mặt sau của bụng chân hay mặt trong của cẳng chân và từ bẹn đến mắt cá chân. Khi các van của tĩnh mạch không hoạt động tốt thì máu tích tụ ở hai cẳng chân làm cho các tĩnh mạch phình ra và xoắn vặn; màu sắc của tĩnh mạch cũng trở nên xanh vì có ít ôxy.

–   Phù dịch bạch huyết: do các mạch bạch huyết bị tắc, từ đó gây ra ứ dịch và có thể đau và sưng nề. Phù dịch bạch huyết còn có do nhiễm khuẩn, do chấn thương, do các khối u, phẫu thuật và liệu pháp tia xạ. Trong một số trường hợp hiếm gặp, bệnh phù dịch bạch huyết có thể bẩm sinh. 

Trong trường hợp chị em đang mắc phải một vài yếu tố góp phần gây bệnh tim, như cao huyết áp, cao cholesterol, hoặc bệnh tiểu đường, hãy tuân thủ thực hiện theo lời khuyên của bác sĩ, uống thuốc đúng liều lượng và thời gian theo toa, tầm soát mức huyết áp và đường huyết. Bài viết đã hướng dẫn chúng ta một số nhận diện đặc thù và nguy cơ mắc bệnh tim ở phụ nữ, nếu có những dấu hiệu trên chúng ta hãy đến phòng mạch gần nhất để kiêm tra kĩ hơn nhé!

Nguồn tổng hợp