Huyền thoại về vương triều Ankor và hình tượng vũ nữ Apsara

Huyền thoại về vương triều Ankor và hình tượng vũ nữ Apsara

October 3, 2018 0 By Nga Truong

Từ trên bờ nhìn xuống, trong bóng nước lung linh đổ về từ hàng chục ngọn thác, hàng ngàn vũ nữ Apsara nhịp nhàng uốn mình nhảy múa theo tiếng nhạc thiên thần.

Khi chúng tôi đến núi Kulen, nơi vào năm 802 Jayavarman II đọc tuyên ngôn độc lập tách khỏi đế quôc Sri Vijaya và thiết lập đế chế Angkor, thì dòng sông đang lúc nước dâng cao sau mấy trận mưa đầu mùa. Và chúng tôi nhìn thấy ở đó quang cảnh sinh động của hàng ngàn vũ nữ Apsara nhảy múa bên dưới làn nước lung linh đổ xuống từ các ghềnh thác lớn nhỏ. Người ta kể rằng Suryavarman I đã cho ngăn cả đoạn sông dài hơn 4.000 mét để khắc họa nên các bức tranh dưới nước, nhưng phải 100 năm sau toàn cảnh bức họa tuyệt mỹ mới được hoàn thành rồi lưu lại nguyên vẹn cho đến ngày nay.

Cuộc chuyển mình lịch sử từ nền văn minh sông nước mà đinh cao vào thời thương cảng Óc Eo trong thế kỷ thứ I sang nền văn minh đô thị đã làm thay đổi diện mạo lưu vực Mê Kông. Khởi đầu bằng việc hình thành đô thị Ba Thê bên cạnh thương cảng Óc Eo ở đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, tạo nền móng cho việc ra đời một nước Phù Nam, quốc gia – đô thị (city-state) đầu tiên ở Đông Nam Á. Nhưng kỳ biển tiến Đông Hải bắt đầu từ các năm 350 đã dần thu hẹp địa bàn sinh tụ của cư dân. Các thành phố lần lượt ra đời rồi biến mất từ nam lên bắc, từ đồng thấp đến đồng cao, bắt đầu từ kinh thành Ba Thê của thế kỷ thứ III, đến Angkor Borei ở thế kỷ thứ V, rồi Sambo Prey Kuk giữa thế kỷ thứ VII.

Huyền thoại về vương triều Ankor và hình tượng vũ nữ Apsara - Ảnh 1

Quá trình này làm cư dân đồng bằng châu thổ phân hoá, một bộ phận ra biển thành các thương đoàn thiết lập đế quốc Sri Vijaya nơi vùng hải đảo phía nam, một bộ phận khác lùi lên canh tác đất đai vùng cao dưới chân rặng núi Dangrek, thiết lập đế chế Angkor. Chúng tôi hẹn nhau ở Siem Reap sáng ngày 16 tháng 6. Nhóm đi bằng đường bộ qua cửa Poipet đã đến trước hơn một tiếng đồng hồ, nhờ vào thủ tục nhập cảnh từ Thái Lan khá nhanh và quốc lộ 6 đi qua Sisophon đã được cải tạo. Trên chuyến bay từ phi trường Pocheng Tong ở Phnom Penh, tôi có thể hình dung được bước chân của những đoàn cư dân nông nghiệp tiến về Biển Hồ vào lúc cao điểm biển tiến trong các năm 650.

Nằm giữa hồ nước mênh mông và núi rừng trùng điệp là các thung lũng đất đỏ và những dải đồng bằng màu mỡ rộng lớn. Quốc lộ 6 ngày nay chạy gần song song với con đường của thế kỷ XIII nối liền các kinh thành cổ, từ Sambo Prey Kuk ở Kompong Thom đến núi thiêng Kulen ở Preah Vihear rồi Angkor Wat ở Siem Reap, tiếp tục chạy về phía bắc đến Banteay Chmar rồi vượt qua cao nguyên Korat để đến Phimai trên đất Thái Lan. Thiên nhiên đó, không gian đó và thời gian đó như chờ sẵn cho những con người di cư đến đây lập nên nghiệp lớn.

Quần thể Angkor nằm cách thành phố Siem Reap chỉ vài cây số trong khu biệt lập với một lối vào dành cho du khách; vé được bán cho từng ngày một hoặc mỗi ba ngày tham quan. Tôi đặt phòng tại nhà khách Apsara Angkor do quen biết ông chủ; những người bạn đến trước đang nghỉ tại khách sạn Stung Siem Reap. Noun và Sokchata đến đón tôi trên chiếc 4WD lúc 10 giờ, rồi chúng tôi đến khách sạn để cùng ăn trưa chung đoàn. Tôi quen Sokchata trong một vũ hôi hoàng gia ở đền Bakheng qua lời giới thiệu của nữ diễn viên điện ảnh Sarina Luy.

Cô vốn là cô giáo ngoại ngữ lai am hiểu thổ ngữ miền núi và đọc được ít nhiều chữ cổ Khmer nên chúng tôi đã khẩn khoản mời cô dành cho đoàn mấy ngày trong chuyến du hành đến vùng núi thiêng và đến cố đô Koh Ker xa hơn về phía bắc. Noun được người chị gái phân công lái xe hướng dẫn đồng thời quan hệ với các chính quyền địa phương. Rời quốc lộ 6 ở ngã ba Dam Dek trong khoảng 6km phía đông thành phố Siem Reap để theo tỉnh lộ 47 đi về phía bắc, chúng tôi như bị bao vây bởi rừng cây cổ thụ xa xa chen lẫn những đền và đền, ở sau lưng trên bờ biển hồ Tonle Sap, ở tay mặt bên dòng sông Roluos, và ở tay trái dọc theo con sông Siem Reap.

Trong vài năm trở lại đây, theo sau công việc rà phá bom mìn, các tỉnh lộ dẫn đến những quần thể di tích đã nhanh chóng được cải tạo hoặc làm mới để đón lượng khách đến đây mỗi ngày một nhiều. Tuy nhiên đường sá còn đầy bụi bặm và nhiều nơi vẫn còn hang lỗ, vì vậy đi trên một chiếc 4WD là thích hợp nhất, đặc biệt nơi các địa hình đồi núi. Ở ngõ vào mỗi khu đền – đôi khi rất rộng, hiểm trở và hoang vắng – thường có các thanh niên đánh cờ chờ người, và khi du khách đã ngã xong giá thì họ mang vào mình bộ đồng phục nhân viên bảo vệ trước khi chở khách tham quan trên các mô tô.

Huyền thoại về vương triều Ankor và hình tượng vũ nữ Apsara - Ảnh 2

Khi đến bìa đông khu bảo tồn Angkor khoảng 15km tính từ ngã ba, chúng tôi bắt đầu nhìn thấy rặng núi Kulen nổi lên nơi chân trời đông bắc. Kulen là một vùng núi non rộng lớn và quan trọng đối với người dân đất nước Camphuchia, Chùa Tháp: Đông nam ngọn núi nhìn về kinh đô Chân Lạp Sambo Prey Kuk của thế kỷ thứ VII và VIII. Phía bắc Kulen nhìn xuống cố đô Koh Ker của các năm 921-944 khi Jayavarman IV tìm nơi ẩn lánh, và bên sườn tây nam chính là ngọn núi Phnom Kulen linh thiêng nơi mà vào năm 802 Jayavarman II đọc tuyên ngôn độc lập tách khỏi đế quốc Sri VỊjaya, thiết lập nên đế chế Angkor. Chúng tôi dừng lại ở Banteay Srei đối diện ngọn núi để ăn sáng và chờ cho sương tan trong các thung lũng.

Một nhà sư vui vẻ cho biết hôm nay trời tốt, làn sương sẽ tan trong khoảng một giờ nữa và rồi lại bao phủ núi rừng sau 4 giờ chiều. Banteay Srei được kiến thiết theo đúng hình dang linga-yoni, gồm các kiến trúc đền đài ở giữa, vây quanh bốn phía bởi các hào chúa nước thể hiện yoni lòng mẹ, tượng trưng cho thung lũng màu mỡ, cho vũ trụ bao la. Con đường từ ngã ba Banteay Srei vào núi tuy vẫn đầy bụi đỏ, nhưng khí trời đã trở nên mát mẻ và các bụi cây thốt nốt lùi lại phía sau nhường chỗ cho rừng dày nhiệt đới. Noun nhảy xuống xe trao đổi vài câu với nhóm bảo vệ khu đền, rồi trở lại đưa chúng tôi thẳng đến sông Ngàn Linga.

Sokchata rất rành lối đi, và khi tôi đứng lại chụp mấy tấm hình thì cô đã hướng dẫn đoàn người về phía thượng nguồn. Năm 1050 Suryavarman I cho ngăn đoạn sông dài hơn 4000 mét để các thợ đá khắc chạm lên đáy lòng sông những bức hoạ, nhưng phải mất 100 năm sau toàn cảnh bức tranh tuyệt mỹ mới được hoàn thành và lưu lại nguyên vẹn cho đến ngày nay.  Thực ra các bức tranh dưới nước, với họa tiết tinh xảo và những cảnh tượng thần tiên chen giữa hàng ngàn linga-yoni thể hiện ước vọng sung túc phồn thực, không chỉ nhìn thấy ở sông Ngàn Linga mà cả ở Kbal Spean phía bắc trên đường đi đến Koh Ker, và ở suối Đá Đẽo (O Thmor Dap) phía nam khi chúng tôi trở về qua khu đền mộ Beng Mealea.

Tất cả tạo cho Phnom Kulen một vẻ linh thiêng hơn cả quần thể Angkor cổ kính. Quần thể Angkor không phải là một thành phố đơn độc mà là những khu đền nằm gần nhau; một số đã được chỉnh trang cho du khách đến xem, số khác đang được trùng tu nhờ tài khoản hiến tặng của các tổ chức quốc tế, nhưng có thể còn những đền đài ẩn khuất hay đổ nát bên dưới các khu rừng dày. Xuất xứ từ đỉnh núi thiêng, Indravarman I (877-899) xây dựng kinh đô Bakong bên dòng Roluos, rồi Yasovarman I (889-910) thiết lập kinh đô Bakheng trên dòng Siem Reap.

Phnom Bakheng trở thành trung tâm của quần thể Angkor, nơi mà mỗi vị vua đều xây cho mình một “thành phố” dưới dạng linga-yoni để thể hiện vai trò chủ thể đất nước, và cũng để được thờ phượng như một vị thần. Khi Châu Đạt Quan từ Trung Hoa đến đây năm 1296-1297 thì Angkor Wat và Angkor Thom đã được Suryavarman II (1113-1150) và Jayavarman VII (1181-1219) kiến thiết. Nhưng những hao tổn nhân lực và sinh mạng cho các cuộc chiến và xây dựng vô số đền đài đã làm đất nước suy yếu. Angkor đi vào quên lãng sau năm 1431 và rồi chỉ được phát hiện trở lại cách nay đúng 150 năm.

Nguồn tổng hợp