Giai thoại về nhãn lồng Phố Hiến – Hưng Yên thời vua Bảo Đại

Giai thoại về nhãn lồng Phố Hiến – Hưng Yên thời vua Bảo Đại

June 19, 2018 0 By Nga Truong

Nói đến Hưng Yên là nói đến đất nhãn, nhiều tài liệu cho rằng đây là nơi xuất xứ của nhãn lồng và nhất là nhãn lồng tiến vua. Quả nhãn ở đây rất to, cùi dày, trong, ngọt và thơm. Nhãn lông đặc biệt hơn vì cùi kép, nghĩa là có hai lần cùi và ăn ngon hơn nhãn thường rất nhiều.

Hạt nhãn lồng nhỏ, quả to, có cây quả to như quả cau, hạt đen nhỏ như hạt tiêu, ăn ngọt như đường phèn, hương vị thơm dịu. Nhãn này được gọi là nhãn tiến, hàng năm dùng để dâng vua chúa. Tục truyền cứ đến đầu tháng 5 âm lịch thì quan đầu tỉnh chỉ định cho những làng có cây nhãn lông quý phải chuẩn bị đem nhãn lên tỉnh để gửi về kinh đô Huế tiến vua. Trong đó có giai thoại về nhãn lồng Phố Hiến – Hưng Yên thời vua Bảo Đại.

Vua thưởng thức xong thưởng ban cho các quan đại thần. Làng nào có cây nhãn tiến ngon được vua ban giấy khen và nhiều cây nhãn quý đã được đặt tên, lại được cả triều đình biết tên và nơi xuất xứ, như cây nhãn lồng đường phèn Xích Đăng, cây nhãn lông điếc Nguyệt Hồ và Mậu Dương (nay là ở thị xã Hưng Yên) nhãn tiến Quế Chi, Văn Chỉ làng Trà Dương và Trà Bồ (nay thuộc huyện Phù Cừ), có cùi dây ba lớp, hạt nhỏ và có khi không hạt. Mỗi khi đem nhãn về kinh đô, thời xưa người ta phải dùng ngựa chạy suốt ngày đêm y như là đem hoả bài từ mặt trận về.

Để tránh tội khi quân, những quả nhãn không được đặt trên lưng ngựa, mà phải đặt trên đầu ngựa. Người ta chế ra những chiếc túi thích hợp choàng trên đầu những con tuấn mã, rồi cho những thanh niên khoẻ mạnh, mặc áo đỏ, cầm thẻ bài đỏ ra công cho ngựa phi nước đại để kịp đến kinh đô đúng thời gian dự liệu.Vì bị đè nặng trên đầu nên dù là tuấn mã cũng không thể thi triển hết khả năng của mình. Nhiều khi nhãn đến kinh đô Huế bị biến mùi, có khi ung ủng hay hăng mùi rượu… Mãi về sau này, đến thời vua Bảo Đại, nhờ có phương tiện di chuyển tối tân, lúc đó vị vua cuối cùng triều Nguyễn mới được “thời” món nhãn tươi tốt.

Giai thoại về nhãn lồng Phố Hiến - Hưng Yên thời vua Bảo Đại - Ảnh 1

Cây nhãn tiến nói riêng và nhãn thường nói chung, đều thuộc họ sapindacées, tên khoa học là euphoria longan lour. Cây nhãn cao từ 2-20 mét, lá dài xanh mốc, hoa nhỏ màu vàng, quả ra theo chùm, hình tròn, hạt tròn đen hay hơi vàng, cùi màu trắng, vị ngọt thơm. Đem phân tích cùi nhãn thì ta thấy có nhiều chất bổ, như đạm, đường và nhiều sinh tố khác. Sách thuốc đông y nói rằng cùi nhãn phơi khô gọi là long nhãn nhục ăn rất bổ và có tính kích thích cơ năng trí tuệ con người. Hạt nhãn chứa một hoạt chất gọi là saponin có tính sát trùng và cầm máu. Cây nhãn trồng bằng hạt, thường trồng sau 3, 4 năm là cây cho quả. Hoa ra vào mùa xuân và quả chín vào tháng 6 âm lịch.

Cây nhãn là cây có trái ăn ngon và bổ, được nhiều người biết và ưa chuộng cho nên danh từ nhãn đã được sử dụng trong nhiều trường hợp, nhất là ở Hưng Yên nơi được coi là quê hương của nhãn, đặc biệt là nhãn lồng. Trong văn chương người ta thấy những câu:

“Chim quyên ăn trái nhãn lông,

Chồng một thì lấy chồng chung thì đừng!”

“Tháng giêng ăn tết ở nhà,

Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè.

Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng năm.

Tháng sáu buôn nhãn bán trăm…”

“Chim quyên ăn trái nhãn lồng,

Tiến dưa xanh vỏ đỏ lòng Đình Cao.

Hương nồng phảng phất thanh tao,

Quạt hoa Phiến Hới ai nào chẳng tôn!…”

Trọng lịch sử, nhãn còn là phẩm vật cống sang triều đình phương Bắc (Trung Quốc). Trong giai đoạn thực dân Pháp cai trị nước ta, nhãn cũng góp phần trong nhiều trường hợp, xin nhắc lại một giai thoại về nhãn lồng trong triều đình nhà Nguyễn. Một Thượng thư thâm nho họ Ngô đã kể như sau: Năm ấy, vua Bảo Đại mở một bữa tiệc khoản đãi các bá quan cả nước và cả viên Khâm sứ Pháp cùng nhiều thượng khách khác, tới giờ ăn tráng miệng, vua Bảo Đại cho đem ra mấy mâm nhãn lồng. Vua Bảo Đại ăn trước một hồi rồi mời bá quan thưởng thức, và nói rằng”

– Đây là nhãn lồng tiến mà Ngự tiền Văn phòng Phạm đại nhân (Phạm Quỳnh) mời dâng trẫm và bảo rằng nhãn này lấy ở Hưng Yên và là nhãn xưa kia vẫn được “tiến”

Trẫm ngày nay ngon quý như thế nào và có giống ngày xưa không?

Mọi người bóc nhãn ăn nhấm nháp rồi phát biểu ý kiến. Sau khi nếm một nửa cùi nhãn, ông khâm sứ người Pháp nhanh mồm nhanh miệng, trả lời xã giao ngay:

–    Tâu bệ hạ, quả nhãn của Việt Nam thật là ngon và không có loại trái cây nào ngon bằng.

May cụ Thượng thư người Huế nói:

–    Dạ muôn tâu Bệ hạ, quả nhãn này thật ngon, ngọt như mạch nha!

Tới ngài ngự tiên Phạm đại nhân:

–    Thưa Bệ hạ, nhãn này là thổ sản của Hưng Yên do quan Tuần gửi hạ thần để kính dâng Ngài ngự thời…

Dự bữa tiệc hôm đó có cả hai quan Tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu và Tổng đốc tỉnh Thái Bình là Vi Văn Định.

Tổng đốc họ Hoàng nói:

–    Tâu Hoàng Thượng, theo hạ thần trái nhãn đây, ăn thì ngọt đấy, nhưng cùi mỏng và dai, hạt lớn ăn không thấy thơm, có lẽ không phải nhãn tiến của tỉnh Hưng Yên, họa chăng đây là nhãn của vùng miệt phủ Thanh Oai, tỉnh Hà Đông do hạ thân cai trị đã trên 10 năm rồi.

Giai thoại về nhãn lồng Phố Hiến - Hưng Yên thời vua Bảo Đại - Ảnh 2

Phạm đại nhân lại lên tiếng:

–    Thưa Hoàng Thượng, quan Tổng đốc Hà Đông có lẽ ít dùng nhãn nên đã không phân biệt rành các loại nhãn chăng, chứ kẻ hạ thân này cam đoan rằng chính hạ thân đã lấy tại tỉnh ly Hưng Yên nhân dịp trở về thăm gia đình…

Tổng đốc Thái Bình họ Vi lên tiếng:

–    Kính tâu

Hoàng Thượng, kẻ hạ thần này trước đây đã làm tuần phủ tỉnh Hưng Yên lâu năm nên đã có dịp nếm đủ các loại nhãn lồng tiến trước khi gửi về Triều để các đức Tiên đế ngự thời. Vậy nên hạ thần biết rất rõ thế nào là nhãn lồng Hưng Yên hay thường gọi là nhãn tiến Phố Hiến. Theo hạ thần nghĩ, thì nhãn này không phải xuất xứ ở Hưng Yên, nhất là không phải ở tỉnh ly, và thần biết rõ là ở tỉnh ly có 2 cây nhãn lồng “tiến” trồng trên bờ Nguyệt Hồ.

Vua Bảo Đại hỏi Tổng đốc Vi:

–    Thế quan lớn làm sao xác nhận trái nhãn lồng tiến của chính tỉnh Hưng Yên như sao?

Tổng đốc Vi đáp:

–    Thưa Hoàng thượng, nhãn lồng Hưng Yên trái phải lớn, thật tròn, vỏ nhẵn không có gai thô ráp, màu vàng nhạt, lấy hai ngón tay khẽ bóp tức thì vỏ nứt làm hai để hở cơm và hột, khẽ để vào mồm lấy răng hơi cắn là cùi rời ra, để rớt một hột tròn xoe nhỏ bằng đầu đũa màu đen nháy tựa hạt huyền, cùi thơm thì dày gấp ba bốn quả nhãn ăn đây và màu trắng trong như thạch xu xoa, lại khô, cắn thấy giòn và vị ngọt như đường phèn, lại thơm như nước hoa nhài.

Nghe nói, từ vua tới mọi người ai cũng nếm quả nhãn để tìm “tiêu chuẩn nhãn lồng tiến Hưng Yên” như Tổng đốc Vi vừa tả, ai cũng vừa công nhận là nhãn này không được ngon ngọt và thơm cho lắm. Cụ Thượng Phạm Quỳnh như thấy bị “lật tẩy”, nên ngồi im, đỏ mặt tía tai, không nói một lời nào nữa. Vua Bảo Đại cười quay sang quan Khâm sứ Trung kỳ rồi nói một tràng tiếng Pháp:

–    “Ồ, nếu những quả nhãn này không xuất xứ ở tỉnh Hưng Yên, nhưng cũng ngon đấy chứ!”

Một cụ Thượng già thâm nho vốn có ty hiềm sẵn với họ Phạm, đứng lên nói:

–    “Tâu Thánh Thượng, câu chuyện xác nhận nhãn lông Hưng Yên hay các tỉnh khác làm hạ thần nhớ đến chuyện Triệu Đà tâu với Đại Đế Trung Quốc khi đem dâng đồ côdng, gọi con gián nước hay là con đà Cuống là con mọt cây quế hay “quế đô” đe gạt Đại Đế, và thần xin mạn phép nhái câu phán của Đại Đế cho Triệu Đà, nhái rằng:” “Bắc kỳ Phạm Đại nhân xung hiến Nam Long Nhãn, Thế giới anh hùng VỊ tất bá khi nhân.”

Vua Bảo Đại phán:

–    Khanh dịch nôm na cho Trẫm nghe.

Cụ Thượng trịnh trọng dịch:

–    “Nếu Phạm Bắc kỳ đại nhân bảo rằng đây là nhãn lồng Phố Hiến, thì trên thế gian này anh hùng quái kiệt có khi vị tất không nói sai”.

Vua Bảo Đại hướng về phía vợ chồng quan khâm sứ Pháp nói:

–    “Thưa ngài khâm sứ, để giúp ngài hiểu cuộc thảo luận của chúng tôi về nguồn gốc quả nhãn thơm ngon như lời các người vừa nói, tôi dịch câu nói của ngài X… theo truyệ̀n kể, Triệu Đà – vua nước Nam Việt thời xa xưa, người đã chịu ách áp bức của Hoàng đế Thiên Triều Hán Cao Tổ. Khi ông ta phải nộp đồ hiến cống 3 năm một lần, thì có triều cống con gián nước, và gọi nó là con mọt cây quế hay “que đô”, con này hay nằm trên một thanh quế trắng gọi là bọ quế, vì con này hay ngửi mùi thơm của cây quế…”

Bữa tiệc chưa tàn nhưng Phạm tiên sinh đứng dậy cáo từ rút lui trước… và mọi người đều phá lên cười, kể cả vua Bảo Đại 

Nguồn tổng hợp