Đọc lại thơ Quách Tấn, thử ngẫm vài điệu tình miên man của tâm hồn

Đọc lại thơ Quách Tấn, thử ngẫm vài điệu tình miên man của tâm hồn

July 11, 2018 0 By Nga Truong

Tuyển tập thơ được chọn từ 13 tập thơ, do Quách Giao – con trai nhà thơ – giới thiệu và Nxb Hội Nhà văn xuất bản (tháng 7.2006), có nhiều ảnh của nhà thơ qua các thời kỳ.

Đọc lại thơ Quách Tấn, thử ngẫm vài điệu tình miên man của tâm hồn . Lắm thể, đủ điều. Nhưng một mực công phu, dìu dịu, đi vào bên trong, ẩn mà hiện, vi diệu, cần được ngẫm hơn là đọc. Xin cùng mọi người lắng nghe… Cõi thơ không biết tính bằng con số. Đo cho vẹn cái tinh, cái sâu, cái ẩn, cái diệu chỉ có trực giác hoặc bắt đầu bằng trực giác. Cõi thơ không có kích thước siêu hình như ngày xưa hằng tưởng, nhưng nó chỉ hiển hiện trong tĩnh lặng, thanh trong cho dù đang giữa tục phàm ồ ạt. Nó cần say chứ không cần rượu, cần ngất chứ không cần sắc, cần hương; cần giao cảm, hoà nhập với tinh người, thần cảnh chứ không nhất nhất đối người đối cảnh.

Nói như ngày xưa “Thơ là cái màu ngoài màu, không thể lấy mắt thường xem được, cái vị ngoài vị, không thể lấy miệng thường nếm được” (Hoàng Đức Lương, Tựa Trích diễm thi tập – thế kỷ XV). Không thể đốt trầm, chỉnh khăn áo mới đọc thơ, nhưng đi vào thơ tình Quách Tấn không thể thiếu tĩnh lặng trong tâm. Không biết cái Chợ Đầm (Nha Trang) kéo tới đấy tự bao giờ, mang cái xô bồ, ào ạt áp sát vào nhà. Có điều, vượt qua tầng không vẫn vọng lại tiếng chuông chùa Hải Đức và từ phía biển, tận Hòn Chồng, lời sóng cứ đọng lại trong những chiếc “vỏ sò”. Nơi đó tưởng như thời gian và không gian ngưng đọng trong thế vĩnh viễn của tuần hoàn. Ngẫu nhiên chăng? Mở đầu là đợi chờ hòa đá, khép lại là ông lão hiu hiu tan mình trong bóng Tháp!

Đọc lại thơ Quách Tấn, thử ngẫm vài điệu tình miên man của tâm hồn - Ảnh 1

Ngưng đọng luôn trong thơ. Năm mươi năm trước, năm mươi năm sau đinh ninh một làn điệu “cổ điển” – Từ Mùa cổ điển (bản cũ) trở đi chẳng có thơ mới thơ cũ, chỉ có thơ hay và thơ không hay. Vẫn Đường luật thất ngôn, ngũ ngôn. Vẫn chất liệu của trường th ơ xưa ở ta, ở tận phương Bắc thuở Đường, Tống. Lặp đi lặp lại, tràn trề, thành cõi riêng, màu sắc, không khí đường hoàng biệt lập. Xưa đã tùng, liêu, oanh, phụng, câm, địch, nước mây, sắt đá,… thì nay cũng song chiều, cành sương, tình chung chín khúc, tri kỷ ba sinh… Ai phá thể, tự do vô thể, ai thơ văn xuôi, ai đòi đổi mới, đòi thơ đời thường trần trụi đến tình dục táo tợn, vô thức hay loạn thúc… xin cứ việc. Còn nhà thơ thì vẫn điềm nhiên.

Điềm nhiên đây không phải đóng băng, mà là “hàm dưỡng, súc tích”, nghiêm ngặt với lòng mình: “Cầm cây bút trước khi chấm mực phải chấm vào máu trong tim mình” (Quách Tấn qua cái nhìn phê bình văn học, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1994, tr.324). Trái tim ấy vốn là trái tim thơ. Xưa có thể ngao du trăng gió, nước mây: không tùng thì đã có ký hiệu tùng, không địch thì biến sáo thành địch. Nay cuộc sống bắt trần gian hơn, rồi từ suy ngẫm kiếp trăm năm mà thanh thoát ngay trong mọi gần gũi trước mắt. Thế là đất thơ có mặt rẫy mít vườn thơm, có nhánh mận già, có giếng ngọt vườn quê, có hoa cau, tàu cau, có cam, có tà chuối khuya, có giọt thềm, có cả cơm ghé ngày mùa, có vợ nhịn chồng, cha nhịn con để chồng con có miếng cơm… Ngỡ đâu từ Mạnh Hạo Nhiên chuyển qua Đỗ Phủ, hoặc bỏ Lữ Đường mà về với Yên Đổ, ngược lên các thiền sư đời Lý-Trần, nhưng không hẳn thế.

Nhà thơ đã sẵn nếp hằn sâu: chỉ chút ít chăng là hiện thực, còn thì cứ là tượng trưng – thơ cổ điển (nay gọi là trung đại) là cả một thế giới tượng trưng. Những “rẫy mít vườn thơm”, những “mận già, tàu cau” những “cam chuối giọt thềm” ấy mới là những vờn phớt mong manh, dường như bay hết sắc hình để chỉ là những thân xác để hồn nương mà hiển hiện – hồn là những rung cảm ở từng sâu tâm hồn. “Mít thơm” chỉ là cái ngăn xoá mọi “thị phi” nỗi đời. “Tàu cau” là cái lạnh “đêm xuống” trong “thơ thẩn đợi”, cái “thương nhớ” nhau nơi “vườn xưa muôn cách trở’.

Cả cái Tháp Bà nghìn năm sừng sững mà cũng chỉ là cái “bóng trôi dòng mây” và “phảng phất hương trầm thoảng”… Đẩy tất cả về chiều, về đêm, về xưa, về nghìn trước nghìn sau, về vĩnh viễn, về vô biên để gần thì phủi cơn nghèo ngặt mà về với ánh sáng vầng trăng cố tri, xa thì tỉnh giấ́c buồn là tan ngay vào “tiêng chuông chùa cổ”, hoặc nghe tiếng dế mà như tiếng “nghìn xưa đọng” trong đó, cũng như “sụt sùi hoa khế rụng” thì biến ngay thành “đêm rựng ánh bình minh”… Trái tim có một nhưng tình thì nhiều. Tình quê, tình trong gia đình: cha mẹ, chị em, vợ con; tình với đời: bạn bè, người yêu; tình mông lung không địa chỉ, và mình với mình. Cứ gì mười ba cuốn, trăm bài từ năm bảy tác phẩm thơ, gần như trọn một đời.

Tuổi trẻ xanh, tuổi già bạc, tình không khỏi khác đi, dù máu trong tim vẫn không hết đỏ. Nói tình mà cũng là nói ngọn bút, màu thơ. Một tấm lòng là tình, là thơ những năm hai mươi. Có chút tung tăng của bướm của gió, đôi cảm nhận da thịt hiền lành. Giọng thơ chân chật, hé mới trong cũ và đôi chỗ có tứ hay, ngộ. Mùa cổ điển xoá ranh giới cũ mới, nhập vào thơ hay. Tình, thơ đều ở thế ổn định. Một thế giới sang trọng, tình sang mà thơ cũng sang. Tình có lúc “chan chứa biết bao cay đắng” mà thơ thì cứ là “vàng ngọc nhảy réo câu khiển hứng”. Có gì như chưa được cân bằng giũa thơ và tình, xưa thì bảo đó là dấu tay còn lộ quá. Đó là bản in cũ. Bản in mới thêm nhiều nỗi niềm riêng rất hiện thực.

Cảnh, tình, thơ đều thực. Không lơi cái bất lực ngày trước nhưng tình không khuất lấp, bớt đi tí tượng trưng, thêm xíu hiện thực, trở thành dễ thông với đời – Không quên dụng ý sắp đặt thuẫn thơ thất luật. Đọng bóng chiếu, Mộng Ngân Sơn, Giọt trăng chuyển dần qua một giọng điệu khác. Tình và thơ đều vào tuổi trên dưới sáu mươi và trải qua bao nhiêu sóng gió giữa đời. Bớt đi cái sang và thêm cái chân, tình cũng vậy mà thơ cũng vậy. Chân nên gần gũi hơn, thân mật hơn. Có gì như khắc khoải, bởi toàn cách với xa, tiễn đưa, mong nhớ, mộng mị. Dần dần lại chuyển sang thanh thản, bắt vào cái  nhịp của vũ trụ, thực đó mà hư, không mà lại có. Thơ thất tuyệt đang ra vẻ ai hoài thì thơ ngũ tuyệt như muốn thoát lên lâng lâng…

Đọc lại thơ Quách Tấn, thử ngẫm vài điệu tình miên man của tâm hồn - Ảnh 2

Tình và thơ có theo tuổi tác mà đổi thay nhưng cái nếp chịu tử tâm với chữ nghĩa, âm điệu thì trước sau vẫn một. Thử nhặt vài câu. Dụng công rõ ngay từ thuở trẻ: Luy nhớ mưa ngàn tuôn nượp nượp, Tóc thề mây núi bạc phơ phơ. Gọi là hàm dưỡng, súc tích mà đắc đạo thì: Cành gió hương xao hoa tỉ muội, Đồi sương sóng lượn cỏ vương tôn. Nhưng hãy còn là tìm tòi và trông cậy vào chữ nghĩa nhiều uy lực. Đơn sơ mà tinh vi, lời gần mà cảm sâu lại là: Tà chuối vườn bên rụng giọt khuya hoặc Biếc ngậm lòng sông sâu.

Ngắn ngủi cắt ngang hiện ra âm điệu này: Thôi, rứa là xong tình một tối, Ừ, ri thêm rảnh nợ ba sinh. Âm điệu ở hai câu: Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng, Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng không nhìn thấy trong nhịp mà trong hồn, nó đẩy ta về xa xưa thời gian và mênh mông không gian, lạc vào một cõi mông lung vô biên vô tận. Đặc biệt là các câu kết, nhất là ở các bài thất tuyệt, chỗ đặc trưng của thi pháp Thợ Đường mà nhà thơ ngày nay tiếp nhận hết mực tài tình.

Nghệ thuật không ưa cái thẳng tắp, cái rõ mồn một. Chấm dứt của nó là chưa hết. Khép lại là mở. Đường luật tám câu, bôn câu đêu vậy. Cảm mình Trơ trọi nhung kêt thúc: Hỏi thăm tin tức bao giờ lại? Con thước qua sông lại ỡm ờ! Cái ỡm ờ ấy kéo dài cái trơ trọi không biết tới đâu bởi con thước qua sông mà chẳng nối nhịp cầu. Đêm mưa rèm lạnh, đèn muộn, canh dài, hạ xuống hai câu kết: Tinh mong tri kỷ muôn xa lại, Chung gối nằm nghe nước giọt thềm. Như nhắc lại câu Hà đương cộng tiễn tây song chúc, Khước thoại Ba Sơn dạ vũ thì trong Thơ Đường. Nước giọt thềm ấy biết đến bao giờ mới dứt cho tình nhớ nhau cũng ngừng?

Đó là công phu cho chữ nghĩa, âm điệu. Còn đây là cho tình. Quê Trưa mùa thu hiền lành, êm ả: Đây vài giọt nhẹ rơi mưa lá. Đó một màu im trải nắng hồ. Quê tạm lánh cư thời có giặc: Mây trưa mống xế chung thời tiết, Rẫy mít vườn thơm ít thị phĩ. Thời tiết ngoài trời, thị phi ngoài đời mà cứ nghe như ăn mòn than mình và lòng mình, qua trưa xế ngày ngày không ngớt, và sức ngăn chặn của mít của thơm cũng chỉ phần nào trước thị phi miệng người. Xa lâu về thăm nhà, trước cảnh nhện choán bìm leo, ôn chuyện cũ bỗng Giật mình ngỡ đến chốn nào đâu. Nhà là nhà cha mẹ, nhà của mình, chuyện là chuyện sum họp buồn vui thời đã qua, nay chẳng còn, cái mình cũ đã mất, cái mình nay cũng ngỡ ngàng không biết có còn là mình không.

Nỗi đau mất mát này ở lòng còn lấy gì đo: Nhớ chị mà Đèn côi, gió lạnh, song khuya vắng, Máu chảy thân em, ruột chị mềm là cái nhớ máu xương, ruột thịt, dù hết đời cũng chẳng quên. Đôi với vợ con thì một bài Khóc con, Bước cùng đủ tiêu biểu. Hơi khác với thường một chút: Không có chuyện văn chương, càng không làm văn chương. Chỉ có sự thực mà hoá ra thừa sức xúc cảm. Không so được nhưng ngăn sao khỏi nhớ tới Đỗ Phủ ở Đồng Cốc với mấy bài Đồng Cốc ca? Một loạt những cùng, lỡ, thảy, những khó, không, đành, nhịn và nhịn.

Đọc lại thơ Quách Tấn, thử ngẫm vài điệu tình miên man của tâm hồn - Ảnh 3

Chẳng còn chút gì. Chẳng việc, kể cả việc bưng, xách, chẳng nơi tựa, cái có hoá không; ngày mùa mà cơm ghé, vợ chồng, cha con nhịn cho nhau mới có miếng cơm. Lừng lựng những cơ cực bình thường lúc có giặc. Nhưng ở trong trái tim thơ của kẻ làm chồng, làm cha nào khác gì cháy ruột, cháy gan: Năm ngoái năm nay gặp bước cùng, Lỡ bề gánh xách, lỡ bề bưng… Ngày mùa đành vẫn ăn cơm ghé, Cha nhịn con ăn, vợ nhịn chồng. Tình bạn ư? Có tên và có thơ ở đây là Hàn Mặc Tử. Bạn mình như mình, như một cặp tình nhân: Một giấc trưa nay lại gặp mình. Gặp nhau trên thơ, gặp nhau trên chuyện đời, tin yêu nhau suốt một kiếp. Bạn hiện lên sang quý cả thảy, và say sưa đủ khóc cười đến mộng cũng lừng vang, nhưng kết thúc vẫn là ma mị: Nhớ thương đưa lạc gió qua mành. Cái thực cái hư, cái mộng cái tỉnh trộn lẫn, hồn ma mà người, người mà hồn ma. Tình vậy mà thơ cũng vậy.

Giọng đằm thắm thật khó phân. Chung hay dành cho ai? Cho hoa, cho mộng, cho em, cho người xa, cho khách? Phong phú, tài tình nhất là ở khung trời này. Có thề nguyền chung thủy, có trông đợi biến thành đá, hoá vào vũ trụ, có mơ người rồi bừng dậy thì thấy người hiện thành trăng, có đê mê, dợn tình. Đó là một thời. Đêm tình, Nhớ thương, Dưới liễu chờ xuân, Trơ trọi… lại là một thời. Một cậu đại biểu: Hồn hoa chợp mộng thơm hồn gió, Tóc liễu dùng thơ đón tóc trăng. Đêm tình với giấc thắm tình duyên với non gối nước thì hoa và gió, mộng và thơm, hồn hoa và hồn gió không ra ngoài tình và tình quyện vào nhau, cùng nhau mộng cùng nhau thơm, mộng ở thân mà thơm ở tình.

Liễu và trăng, thơ và tóc, dừng và đón cũng là thơ ở liễu và thơ ở trăng, liễu và trăng nhập vào nhau thì tóc liệu hoá tóc trăng, nghĩa là chuyện một giấc tình đẹp. Hiểu là cảnh cũng được mà hiểu là người cũng chả sao. Tinh vi nhưng hơi tìm tòi, không chỉ xếp đặt mà kiến trúc. Bài Tình xưa lại một thời nữa: Từ buổi thuyền đưa khách thuận dầm, Trông chừng bến cũ biệt mù tăm. Cảm thương chiếc lá bay theo gió, Riêng nhớ tình xừa ghé đến thăm. Đơn sơ mà ân tình. Ai bảo chiếc lá bay theo gió kia không có hồn ai gởi nhờ trong đó? Nó là sự trở lại trong khi thuyền đã đi và người đã xa, giữa đôi bên chỉ còn là cõi mịt mù. Lời thơ nghe hiu hiu, đậm đà mà tội nghiệp cho trái tim neo im một bến đợi.

Nhà thơ còn trải lòng mình khắp chốn, không kể sông nước, biển trời, còn có cả tiếng chuông chùa ở xa, tiếng khung cửi nhà bên. Đó và đây, xa và gần, cả nghìn trước nghìn sau… nhưng rút lại, ngoảnh lại tâm hồn mình sao cứ vần điệu lẻ loi, tâm hồn quạnh hiu, trơ trọi. Cho tới khi bước chân vào cõi Thiên mới nghe vơi vơi tĩnh lặng. Giờ thì nhà thơ Quách Tấn đã là bướm Trang Sinh sống cùng thiên cổ, nhưng trái tim vẫn còn thắm mãi trong thơ tình! 

Nguồn tổng hợp