Căn bệnh nói dối phải khiến các nhà khoa học phải bó tay??

Căn bệnh nói dối phải khiến các nhà khoa học phải bó tay??

October 18, 2018 0 By Nga Truong

Tiếng Anh có đến 112 từ để miêu tả sự dối trá: collusion, fakery, malingering, self-deception, confabulation, prevarication, exaggeration, denial… ​

Có rất nhiều ý kiến khác nhau và thậm chí trái ngược về cách nhận ra kẻ nói dối. Hầu hết đều nghĩ rằng mình có thể dễ dàng nhận biết sự dối trá nếu thật sự để ý. Cuộc thăm dò hơn 2.520 đối tượng tại 63 quốc gia được thực hiện bởi Charles Bond (giáo sư tâm lý Đại học Texas Christian) cho thấy có đến hơn 70% người, tin rằng kẻ nói dối thường lảng tránh cái nhìn chằm chằm từ phía họ. Một số cho rằng kẻ nói dối thường lúng túng, nói lắp hoặc cố tình dông dài. Tuy nhiên, nghiên cứu mới nhất cho biết chỉ không đến 5% người có năng lực bẩm sinh trong việc nhận biết sự dối trá. Liệu căn bệnh nói dối phải khiến các nhà khoa học phải bó tay??

Bốc phét, nói dóc, ba xạo, bịp bợm, giả dối, xảo trá…

Sự dối trá có thể nói bằng lời hoặc không, có thể xuất phát từ sự gian xảo hoặc chỉ vô tình. Một người có thể nói dối để lãng tránh trách nhiệm, luồn lách pháp luật hay đơn thuần chỉ nhằm làm vui lòng người khác. Dù thế nào, mỗi loại đều liên quan đến một vùng thần kinh duy nhất, và đây chính là vấn đề mà Daniel Langleben –  chuyên gia tâm thần học thuộc Đại học Pennsylvania – đang nghiên cứu. Langleben bắt đầu khảo sát vấn đề vào năm 2000, đầu tiên chỉ là cuộc thí nghiệm đơn giản bằng cách cho đối tượng trả lời có – không.

Thí nghiệm Langleben được tiến hành nhờ thiết bị scan đa chức năng M.R.I, có thể giúp nhận biết hoạt động não bộ trong thời điểm đang chụp, tính được lượng oxy trong não và chỉ ra phần nào của não hoạt động mạnh nhất khi đối tượng đang nói dóc. Thí nghiệm được tiến hành như sau: Mọi người được phép nói thật hay không, khi thấy một lá bài. Kết quả, Langleben cho rằng có vài vùng nhất định trong não hoạt động nhiều hơn bình thường khi người ta nói dối. Nói dối liên quan hoạt động một số vùng trên vỏ não, bao gồm phần phía trước và nếp cuộn não phía trên.

Căn bệnh nói dối phải khiến các nhà khoa học phải bó tay?? - Ảnh 1

Langleben kết luận: “Chúng ta không có sơ đồ cụ thể về não bộ khi nói dối, vì vậy không thể biết chính xác chúng có ý nghĩa gì. Tuy nhiên, điều mà chúng tôi cần trong thí nghiệm đầu tiên này là liệu ta có thể phân biệt hoạt động não khi nói thật và nói dối bằng máy chụp đa chức năng M.R.I không và nghiên cứu cho thấy câu trả lời là có!”. Langleben tiến hành thí nghiệm lần hai với một số cải tiến, chẳng hạn cho phép đối tượng tham gia có quyền lựa chọn hai con bài để nói dối. Kết quả cũng chỉ ra một số vùng tương tự như lần trước ảnh hưởng đến việc nói dối. Việc phát hiện vùng vỏ não phía sau có ảnh hưởng nói dối đã kích thích sự tò mò của Langleben.

Đỉnh vỏ não thường được kích thích khi có sự hoạt động thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, và nó cũng liên quan các thay đổi lý tính trên cơ thể như đổ mồ hôi chẳng hạn. Nói cách khác, người ta thường… toát mồ hôi khi nói dối! Cho đến khi Langleben nghiên cứu mối liên hệ giữa não và việc ra mồ hôi, người ta vẫn cho rằng toát mồ hôi là phản ứng “bình thường”, gây ra do hậu quả từ hành vi nói dối: cảm giác tội lỗi, lo lắng, sợ hãi hoặc cảm giác vui sướng mà các nhà nghiên cứu gọi là “sự ham thích lừa bịp”. Tuy nhiên, kết quả Langleben chỉ ra rằng nó còn có phản ứng “ngược với bình thường” tại hệ thần kinh trung ương. Điều này có nghĩa: có ít nhất một phương pháp nhận biết sự dối trá ngay từ ngọn nguồn của hành động và đó chính là não bộ!

Não, tim, mặt hay mắt sẽ tiết lộ lời nói dối?

Trong lúc đó, tại Đại học Harvard, Stephen Kosslyn tin rằng sự dối trá là phạm trù rộng, một không gian đa chiều mà trong đó nhiều hoạt động phức tạp diễn ra. Kosslyn quyết định so sánh phản ứng não khi ta nói dối một cách tự phát với lúc nói dối có chủ đích. Khi người mẹ hỏi cậu con trai: “Con làm hết bài tập toán về nhà chưa?”. Điều này có thể khiến cậu con trai bất ngờ và cậu sẽ nói dối một cách tự phát. Còn khi bà mẹ hỏi; “Tại sao con về trễ?”. Đây có thể là câu hỏi được đoán từ trước nên cậu con trai đã suy nghĩ cách nói dối. Kosslyn thí nghiệm với 20 người trong độ tuổi 20, cho phép họ nói dối bằng hai cách trên rồi cho họ vào máy scan đa chức năng M.R.I.

Kết quả không nằm ngoài dự đoán: nói dối tự phát và nói dối chủ đích là hai khía cạnh khác nhau! Cả hai đều liên quan đến trí nhớ nhưng ở những vùng khác nhau trên vỏ não: một phần ở thuỳ não trước (liên quan bộ nhớ công việc) đối với nói dối tự phát; một phần ở vỏ não phía trước bên phải (liên quan bộ nhớ lưu trữ) đối với nói dối cố tình. Kosslyn tỏ ra hoài nghi về sơ đồ não bộ và cho rằng sơ đồ não bộ và nhận biết nói dối không dính dáng nhau, ông nói: “Nếu tôi đúng thì sự dối trá không đơn giản chút nào.

Chúng ta phải tìm ra mấu chốt vấn đề và quan sát tất cả hệ thống cơ bản liên quan”, ông cho rằng việc các cơ quan an ninh Mỹ sử dụng máy móc để nhận biết “vùng nói dối” trên não cũng giống như ta muốn “với tay đến mặt trăng bằng cách leo lên ngọn cây”. Trong sơ đồ não bộ, máy scan đa chức năng M.R.I có thể chỉ ra được vùng nào của não hoạt động nhưng nó không thể đọc được xung não với tần số nhiều hơn hai giây/lần. Một số khoa học gia khác tiếp cận vấn đề bằng điện não đồ (EEG), giúp nhận biết xung não ở tỉ lệ mili giây. Tuy nhiên, EEG chỉ lý tưởng trong việc chỉ ra “khi nào” hoạt động não diễn ra mà không cho thấy hoạt động đó xảy ra “ở đâu” trên vỏ não.

Căn bệnh nói dối phải khiến các nhà khoa học phải bó tay?? - Ảnh 2

Ban đầu, hầu hết EEG có khoảng từ 10-12 điện cực; tuy nhiên, hiện nay các nhà khoa học đã nâng số điện cực lên 128 nhằm dò tìm chính xác hơn các xung não xuất phát từ đâu khi một người nói dối. Jennifer Vendemia, nhà tâm lý học thuộc Đại học South Carolina, đã sử dụng loại máy này từ năm 2000 khi nghiên cứu sự dối trá bằng cách quan sát một loại sóng não, với thiết bị hỗ trợ gọi là E.R.P (giúp phát hiện sóng não như là một xung điện, thường xuất hiện trong khoảng 300-400 mili giây sau khi được kích thích). Vendemia thử nghiệm E.R.P trên 626 sinh viên. Đối tượng tham gia chỉ phải trả lời các câu hỏi đúng-sai chẳng hạn “cỏ màu xanh”, “rắn có 13 chân”…

Kết quả, phải mất thêm 200 mili giây khi một người nói dối hơn là khi nói thật! Trong khi đó, Paul Ekman – giáo sư tâm lý Đại học Calitornia, tác giả quyển Telling Lies – lại nghiên cứu vấn đề bằng hệ thống mã biểu hiện mặt, với hơn 10.000 biểu hiện tạo từ 43 bộ phận cơ mặt riêng biệt, giúp nhận biết xúc cảm và biểu hiện trước khi đối tượng đưa ra quyết định về một điều gì đó. Ekman cho biết biểu hiện mặt được kiểm soát bởi não và xuất hiện mà không cần đến sự nhận thức trong khoảng 200 mili giây sau khi có kích thích xảy ra. Ekman cho biết bất cứ người nào, dù là bậc thầy bốc phét, cũng phải có những thay đổi nhỏ trên khuôn mặt khi nói sai sự thật.

Các thay đổi nhỏ cho thấy sự mâu thuẫn giữa tình cảm và lời nói của đối tượng. Xin mở ngoặc, Ekman từng huấn luyện nhân viên điều tra FBI, nhân viên đại sứ quán cũng như nhiều cơ quan an ninh Mỹ cách nhận biết bọn bịp. Ekman còn có cái thú phát hiện lời nói dối của các nhân vật quan trọng. Điển hình vàọ năm 1998, khi Tổng thống Blll Clinton xuất hiện truyền hình, phủ nhận xìcăngđan tình ái với Monica Lewinsky, Ekman lập tức thấy được sự dối trá của Clinton. Máy nhận biết nói dối thô sơ lần đầu tiên xuất hiện đầu thế kỷ 20. Người phát minh là William Moulton Marston, nhà tâm lý học thuộc Đại học Harvard.

Marston bỏ ra 20 năm để đưa thiết bị mình được sử dụng trong quân đội, tại các phiên toà và thậm chí trong quảng cáo. Ngày nay, máy nhận biết nói dối tiếp tục gây nhiều tranh cãi. Nhiều người cho rằng nó không đáng tin cậy. Tuy nhiên, vô số cơ quan tại Mỹ cũng như thế giới vẫn sử dụng thiết bị nhận biết nói dối; trong khi có quá ít bằng chứng khoa học chứng minh sự chính xác của máy nhận biết nói dối – như kết luận từng được đưa ra từ báo cáo của Hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ. Máy phát hiện nói dối chỉ nhận biết khi nào người đó có cảm giác tội lỗi và lo sợ về hành vi nói dối.

Vì vậy, việc có nhận biết được không còn phụ thuộc vào người thẩm vấn và sự hợp tác của đối tượng được kiểm tra. New York Times Magazine cho biết, hiện nay, tại Viện phát hiện nói dối thuộc Bộ quốc phòng Mỹ, người ta thậm chí chế tạo nhiều thiết bị đo được sự toả nhiệt, “phát sáng”, rung động cũng như một số biểu hiện lý tính trên cơ thể khi một người nói dối. Một trong những phát minh mới nhất là máy dò nhiệt ở mặt (nhận biết sự tăng nhiệt bên trong mặt khi đối tượng nói dối). Tuy nhiên, mắt cũng có thể nóng lên khi người ta thực hiện các công việc liên quan nhận thức.

Loại thiết bị khác là máy theo dõi cử động mắt, giúp nhận biết mức độ tập trung hoặc sự chớp nháy nhỏ nhất khi đối tượng nói dối. Ngoài ra, còn có một số thiết bị đo được mức độ hormone stress trong hơi thở; đo sự giãn nở con ngươi hoặc máy cận hồng ngoại đo lượng máu chảy đên vỏ não…

Nguồn tổng hợp